CHÚ Ý : 12 lỗi - 8 bệnh : thơ Đường Luật

Điều hành viên: thamthyphuong

Hình đại diện của thành viên
Võ Nhân Sơn
Supper Moderator
Supper Moderator
 
Bài viết: 1102
Ngày tham gia: 23 Tháng 5 2012, 10:39
Đã cảm ơn: 34859 lần
Được cảm ơn: 9141 lần

CHÚ Ý : 12 lỗi - 8 bệnh : thơ Đường Luật



12 LỖI

Thơ Đường luật

1. Lạc vận
2. Lạc đề
3. Thất niêm, thất luật
4. Thất đối
5. Khổ độc
6. Điệp thanh
7. Điệp điệu
8. Điệp âm
9. Trùng vận
10. Trùng từ/điệp từ
11. Trùng ý /Hiệp Chưởng
12. Phạm đề/Mạ đề

_____________________

1. LẠC VẬN/CƯỠNG VẬN

Vần là yếu tố quan trọng để tạo nhạc cho thơ. Do đó cần phải tránh gieo vần cưỡng ép hay lạc vận. Nếu không dùng vần chính thì nên lựa vần thông càng gần nhau càng tốt.

Ví dụ bài thơ lạc vận:

Thu vịnh
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào
Mấy chum trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào
Nhân hứng đã vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào
(Nguyễn Khuyến)

Than thời loạn
Lửa hồng từ dậy mái thành đô
Đòi chốn lầm than chyện được thua
Xanh biếc thú quê người ẩn dật
Bạc đen đường thế khách bôn xu
Suy tường mỗi mỗi đau lòng trí
Tính quẩn trần trần nát dạ ngu
Muốn đến Vỵ Xuyên tìm hỏi Lữ
Rằng Thương xưa cũng thế này ư
(Khuyết danh)

Thơ cưỡng vận:

Không chồng mà chửa
Cả nể cho nên hoá dở dang,
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng.
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,(1)
Phận liễu sao đà nảy nét ngang.(2)
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?(3)
Mảnh tình một khối thiếp xin mang.(4)
Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Những kẻ không mà có mới ngoan (5)
(Hồ Xuân Hương)

(1)-(2) ở đây, dùng lối chơi chữ Hán. Chữ Thiên là trời nhô đầu lên thì thành chữ Phu là chồng; chữ Liễu là rõ hoặc hết, đồng âm với cây liễu chỉ người con gái, nếu thêm một nét ngang thì thành chữ Tử là con. Hai câu này ý nói: Gái chưa chồng mà sao đã có con trong bụng?
(3)-(4) Tình và nghĩa gắn liền đặc tính truyền thống của Hồ Xuân Hương nhấn mạnh cái nghĩa, cái trách nhiệm mà người đàn ông nào đó thường vô tâm trước hậu quả để lại cho người phụ nữ.
(5) Tác giả đứng về phía người con gái mà dùng ý một câu ca dao: “Không chồng mà chửa mới ngoan; Có chồng mà chửa thế gian sự thường”!

Đêm buồn
Trời không chớp bể với mưa nguồn
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn
Bối rối tình duyên cơn gió thoảng
Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông
Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện
Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng
Ngủ quách sự đời thây kẻ thức
Bên chùa thằng trọc đã hồi chuông
(Trần Tế Xương)

2. LẠC ĐỀ
Khi NỘI DUNG của THỰC+LUẬN không khớp với Ý NGHĨA của NHAN ĐỀ thì phạm lỗi Lạc đề.

3.1. THẤT NIÊM

Muốn xét một bài thơ có thất niêm hay không thì nhìn chữ thứ 2:
- Chữ thứ 2 câu 2 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 3
- Chữ thứ 2 câu 4 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 5
- Chữ thứ 2 câu 6 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 7
- Chữ thứ 2 câu 8 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 1

Ví dụ bài thơ thất niêm:

Dĩ hoà vi quý
Ở thế đừng tranh tiếng trượng phu
Làm chi cho có sự đôi co
Ðấy cậy đấy khôn, đây chẳng nhịn
Ðây rằng đây phải, đấy không thua
Duật nọ hãy còn đua với bạng
Lươn kia hầu dễ kém chi cò
Chữ rằng: Nhân dĩ hòa vi quý
Vô sự thì hơn, kẻo phải lo
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Hà tiện
Giàu thì ba bữa khó thì hai
Lần lữa cho qua tháng thiếu đầy
Nón đổi lá ngoài quần đổi ống
Dép thay da mặt túi thay quai
Dặn vợ có cà đừng gắp mắm
Bảo con bớt gạo bỏ thêm khoai
Thế gian mặc kẻ cười hà tiện
Ta chẳng phiền ai chẳng luỵ ai
(Nguyễn Minh Triết)

3.2. THẤT LUẬT

Để biết một bài thơ có thất luật hay không thì nhìn vào các chữ thứ 2, 4, 6.
Trong mỗi cặp câu thì các chữ thứ 2, 4, 6 của câu trên phải khác nhóm thanh (bằng hay trắc) với chữ thứ 2, 4, 6 của câu dưới.
Trong cùng một câu thì chữ thứ 2 phải khác nhóm thanh với chữ thứ 4 và cùng nhóm thanh với chữ thứ 6.
Ví dụ bài thơ thất luật:

Tự trào
Vùng đất Sơn Tây nảy một ông
Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng
Sông Đà núi Tản ai hun đúc
Bút thánh câu thần sớm vãi vung
Chữ chữ nôm nôm nào kém cạnh
Khuyên khuyên điểm điểm có hay không
Bởi ông hay quá ông không đổ
Không đổ ông càng tốt bộ ngông
(Tản Đà)

Đèo Ba Dội
Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo
(Hồ Xuân Hương)

4. THẤT ĐỐI

Đối chiếm địa vị quan trọng trong thơ Đường luật. Bỏ đối đi thì không còn được gọi là thơ Đường luật nữa.
Ví dụ bài thơ thất đối:

Nghe hát
Phách ngọt đàn say nệm gối êm
Tiếng ca buồn nổi giữa trời đêm
Canh khuya đưa khách lời reo ngọc
Mơ gái Tầm Dương thoảng áo xiêm
Ai lạ nghìn thu xa tám cõi
Sao vàng như động phía châu liêm
Nao nao khói biếc hài thương nữ
Trở gối hoa lê rụng trắng thềm
(Vũ Hoàng Chương)

Nghẹn bước
Nắng rụng gầy sương đường lỡ thì
Thương người khăn gói nghẹn chân đi
Quán nghiêng nửa mái chờ giông tố
Ngõ hẹp mây đùn sập nét mi
Quỷ dựng đàng sau muôn lớp ải
Lòng nghe nai gặm cỏ biên thuỳ
Xoa tay nhớ lại mùa xuân trước
Phấn bướm còn vương nhịp trúc ty
(Vũ Hân)

5. KHỔ ĐỘC

Lỗi khổ độc rất phổ biến trong các người làm thơ Đường luật mà không rành luật thơ, ngay cả đối với một số nhà thơ nổi tiếng cũng có khi mắc phải.


Hát bội

Đứa mắc ghẻ ruồi, đứa lác voi
Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi
Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc
Kẻ nịnh râu hoe mấy sợi còi
Trên trính có nhà còn lợp lọng
Dưới chân không ngựa lại giơ roi
Hèn chi chúng nói bội là bạc
Bôi mặt đánh nhau, cú lại thoi
(Phan Văn Trị)

6. ĐIỆP THANH

Trong thơ thất ngôn, một câu có 4 tiếng bằng và 3 tiếng trắc hoặc bốn tiếng trắc và ba tiếng bằng. Những tiếng bằng hay trắc đó phải có thanh độ khác nhau thì câu thơ mới giàu âm điệu. Ví dụ câu thơ có 4 tiếng bằng thì chỉ nên dùng 2 chữ có dấu huyền (trầm bình thanh), dùng 3 hoặc cả 4 chữ có dấu huyền làm câu thơ yếu ớt, giọng trầm trầm khó nghe. Ngược lại nếu dùng nhiều tiếng không dấu (phù bình thanh) sẽ làm câu thơ nghe ngang ngang không êm dịu.
Ví dụ:

Cung oán
Trên đài hiu hắt ngọn đèn hoa
Gang tấc xem bằng mấy dặm xa
Một kiếp đã đành rằng để vậy
Chín trùng có thấu đến chăng là
Ỏi tai ngán nỗi đàn ve gảy
Tan mặt buồn tênh cái nhện sa
Ví biết than này chi khó bấy
Quyền môn chen chúc chẳng bằng thà
(Ôn Như Hầu)

Than nghèo
Chẳng chán ru mà quấy mãi đây
Nợ nần dan díu bấy lâu nay
Mang danh tài sắc cho nên nợ
Quen thói phong lưu hoá phải vay
Quân tử lúc cùng thêm thẹn mặt
Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay
Còn trời còn đất còn non nước
Có lẽ ta đâu mãi thế này
(Nguyễn Công Trứ)

7. ĐIỆP ĐIỆU

Điệp điệu là khi nhiều câu liên tiếp ngắt nhịp cùng một cách. Lỗi này thường hay xảy ra ở các câu giữa của bài thơ.
Ví dụ:

Giữ mực thanh liêm
Chớ nghĩ là quan đã bảnh bao
Yêu nhau một giống nghĩa đồng bào
Bới lông tìm vết / lòng không nỡ
Giục bị xui nguyên / tội xiết bao
Dấu đỏ loè dân / trò lính lệ
Môi thâm hót nhảm / lối cường hào
Kiếm xu không phải mình không thạo
Bắt nạt dân đen có lẽ nào
(Đặng Xuân Bảng)

Hằng Nga
Hỡi chị Hằng Nga náu Quảng Hàn
Bốn mùa trăng gió với giang san
Áo tiên / tuy nhuộm / mùi Vương Mẫu
Hương tục / còn nồng / lửa Hậu Lang
Mắt phượng / đã say / miền ngọc thỏ
Cung nghê / nỡ phụ / khúc cầm loan
Nếu không duyên nợ cùng người thế
Xin chớ gieo mình nước hợp loan
(Hồ Xuân Hương)

8. ĐIỆP ÂM

Điệp âm là những chữ có cùng âm đứng gần nhau trong một câu hoặc cùng vị trí trong hai câu.
Ví dụ:

Hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ
Chồn toan mượn lốt để hù nai
Giàn treo trã cá vung không đậy
Bếp tạt mưa đêm nước nhỏ đầy
Chim oanh đường cũ đương bay nhảy
Chồi quế sân trong muốn thập thò
(Khuyết danh)

Hai tiếng cùng âm đứng kế liền nhau, các từ đôi lắp láy thì không kể là lỗi.
Ví dụ:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
(Nguyễn Khuyến)

Ngàn mai lác đác chim về tổ
Dặm liễu bâng khuâng khách nhớ nhà
(Bà Huyện Thanh Quan)

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Chỉ vì một chút tẻo tèo teo
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn lèo
(Hồ Xuân Hương)

9. TRÙNG VẬN

Thơ Đường luật chỉ dùng đơn vận, nếu cùng một chữ vần được dùng lặp lại ở hai câu khác nhau thì gọi là trùng vận, bài thơ sẽ hỏng.
Tuy nhiên nếu chỉ là tiếng đồng âm mà khác nghĩa thì được coi là 2 chữ vần khác nhau, không phạm lỗi. Nhưng không nên để hai vần đồng âm gần nhau để tránh nghe đọc không hay.
Ví dụ:

Thăng Long Thành hoài cổ
Tạo hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay thắm thoát mấy tinh sương
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường
(Bà Huyện Thanh Quan)

Chữ “trường” câu 1 với chữ “trường” câu 8 có nghĩa khác nhau nên không phạm lỗi trùng vận .
Cũng vậy trong bài sau, hai chữ cờ có nghĩa khác nhau:

Cảm tác
Mấy chục năm qua gió bụi mờ
Tưởng rày bớt đục hoá thêm nhơ
Mặt đành bôi mặt gà chung mẹ (1)
Tay sẵn ngon tay gió phất cờ (2)
Ruột đứt non sông trời Bến Hải
Sầu vương cây cỏ đất Cần Thơ
Đêm đêm dưới nguyệt gươm mài hận (3)
Ai nữa chung tay lật thế cờ
(T. X.)

(1) Gà nhà bôi mặt đá nhau
(2) Theo gió phất cờ
(3) thơ Đặng Dung: Kỷ độ Long tuyền đái nguyệt ma (dưới trăng bao bận tuốt gươm mài)
Nhưng nếu để hai vần đồng âm gần nhau sẽ nghe rất dở!
Ví dụ:
Tám phương bước lạc đến công trường
Thấy cảnh tình ai khỏi đoạn trường
(Khuyết danh)

10. TRÙNG TỪ

Cùng một chữ được dùng nhiều lần ở trong bài thơ, ngoại trừ trường hợp cố ý, thì gọi là lỗi trùng từ hay điệp từ.
Bài thơ bị đánh giá là kém cỏi.
Trong trường hợp sử dụng mỹ từ pháp điệp ngữ thì không tính là lỗi.

Ví dụ bài thơ trên của Bà Huyện Thanh Quan (Thăng Long Thành hoài cổ) bị trùng từ ở hai chữ “cũ”. Dùng lại chữ một lần thì tạm chấp nhận, dùng lại hai, ba lần thì bài thơ bị đánh giá là kém cỏi.
Ví dụ:

Dại khôn
Thế sự đua nhau nói dại khôn
Biết ai là dại biết ai khôn ?
Khôn nghề cờ bạc là khôn dại
Dại chốn văn chương ấy dại khôn
Mấy kẻ nên khôn đều có dại
Những người có dại mới nên khôn
Cái khôn ai cũng khôn là thế
Mới biết trần gian kẻ dại khôn
(Trần Tế Xương)

Ghẹo cô bán cau
Hỏi cau ai bán tiếng nghe rao
Tốt vóc mà trong biết thế nào
Giấu để trong buồng e đóng đục
Bày ra trước mắt thấy ngon dao
Muốn mua nên phải coi từ vú
Có bán xin cho thử chút mào
Chuốt ngót của mình ai dám chắc
Biết lòng biết mặt xỉa tiền trao
(Đỗ Thanh Tân)

Hỏi thăm ông ấm
Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà
Trước nhà có miếu có cây đa
Vườn ao đất cát chừng ba thước
Nửa lá tre pheo đủ mọi toà
Mới sáu bận sanh đà sáu cậu
Trong hai dinh ở đủ hai bà
Lưng ông mốc thếch như trăn gió
Ông được phong lưu tại nước da
(Trần Tế Xương)

Cũng là trùng từ khi hai chữ đọc khác nhau nhưng cùng một nghĩa, Ví dụ:

Tặng biệt
Dù bắc dù nam cũng một trời
Ba sinh tan hợp cái trò chơi
Cười ta tri kỷ bên mình ít
Mừng bạn cao đường dưới gối vui
Trăng nước Cù Giang duyên mãi thắm
Cỏ hoa Hồng Lĩnh bút thêm tươi
Những đêm êm ấm lòng rung động
Là biết nơi đây tớ nhớ người
(T.X.)
Ta và tớ đều nói cùng một nghĩa, phạm lỗi trùng từ nên giá trị bài thơ cũng giảm sút nhiều.

11. TRÙNG Ý

Trong bài thơ Đường luật nếu có câu chữ nào lặp lại ý của các câu chữ đã dùng mặc dù dùng từ khác đi thì cũng bị lỗi trùng ý. Nếu lỗi trùng ý nằm trong hai câu thực, hoặc hai câu luận thì gọi là hiệp chưởng (câu trên câu dưới đối nhau mà ý nghĩa giống nhau như hai bàn tay úp lại).
Ví dụ:

Thách họa
Thế sự nhìn xem rối cuộc cờ
Càng nhìn càng nghĩ lại càng dơ
Đánh tan tục niệm hồi chuông sớm
Gõ vỡ trần gian tiếng mõ trưa
Chu tử ngán mùi nên vải ấm
Đỉnh chung lợm giọng hoá chay ưa
Lên đàn cứu khổ toan quay lại
Bể ái trông ra nước đục lờ
(Công chúa em Minh Mạng)

Vịnh pháo tre
Đông tàn xuân đã đến đây be
Bốn phía rền vang những pháo tre
Mắng tiếng giật mình loài quỷ xó
Nghe hơi mất vía lũ ma hè
Trêu người trướng gấm kinh hồn điệp
Ghẹo kẻ màn loan tỉnh giấc hoè
Trừ cựu mượn chàng kêu một tiếng
Mừng xuân muôn cửa chán tai nghe
(Hương Kiểu)

Nếu hai cặp thực và luận trùng ý nhau thì gọi là sàng túc (hai chiếc giường chồng lên nhau) hay là điệp sàng xá ốc (giường nhiều lớp, nhà gác chồng).

12. PHẠM ĐỀ/MẠ ĐỀ

Trong hai cặp THỰC và LUẬN không được dùng chữ của đầu bài, nếu có chữ nào của NHAN ĐỀ bài thơ lọt vào thì bị lỗi PHẠM ĐỀ hay MẠ ĐÈ.
Ví dụ:

THEO voi ăn bã mía
Ăn mía theo voi tiếng đến giờ
Vì chi miếng bã để trò dơ
Rón chân những chực khi vòi nhả
Rát lưỡi đành xơi cái ngọt thừa
Ấy đã THEO đuôi thời phải hít
Còn đâu nên tấm nữa mà vơ
Nghìn năm bia miệng là câu thế
Những khách ăn tàn đã biết chưa
Tản Đà

Bài này bị PHẠM ĐỀ ở chữ THEO trong câu 5.

__________________
Tài Liệu Tham Khảo
Dương Quảng Hàm – Văn Học Việt Nam
Quách Tấn – Thi Pháp Thơ Đường

Gửi bàigửi bởi Võ Nhân Sơn » 22 Tháng 7 2013, 16:08

Cung Kiếm xin nhường trang tuấn kiệt
Cầm Thư góp nợ trả cho đời

Hình đại diện của thành viên
Võ Nhân Sơn
Supper Moderator
Supper Moderator
 
Bài viết: 1102
Ngày tham gia: 23 Tháng 5 2012, 10:39
Đã cảm ơn: 34859 lần
Được cảm ơn: 9141 lần

Re: 12 lỗi dành cho thơ Đường Luật

8 BỆNH
Thơ Đường luật



1. Bình Đầu
2. Thượng Vỹ
3. Phong Yêu
4. Hạc Tất
5. Chánh Nữu
6. Bàng Nữu
7. Đại Vận
8. Tiểu Vận

___________

1. BÌNH ĐẦU

Bài thơ mà có nhiều câu liên tiếp bắt đầu bằng những tiếng cùng một từ loại, cùng một cấu trúc câu thì phạm lỗi bình đầu, ngoại trừ trường hợp cố tình làm có mục đích rõ rệt.
Ví dụ:

Đĩ già đi tu
Lầu xanh thánh thót tiếng chuông chiền
Tỉnh giấc Cao đường lúc ngửa nghiêng
Mượn chiếc thuyền tình qua bể ái
Đưa con sóng sắc tới rừng thiền
Trông gương trí tuệ đau lòng tục
Lần chuỗi bồ đề kết trái duyên
Mát mẻ cửa Không trăng gió sẵn
Dầu chưa nên Phật cũng nên tiên
(Huỳnh Mẫn Đạt)

Đón Tết
Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
Rượu cúc nhắn đem hàng biếng quẩy
Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu
Bánh đường sắp gói e nồm chảy
Giò lụa toan làm sợ nắng thiu
Thôi thế thì thôi đành tết khác
Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo
(Trần Tế Xương)

2. THƯỢNG VĨ

Bệnh Thượng Vĩ là bệnh mà 3 chữ sau cùng của 2 liên đứng kề nhau, nghĩa là 3 chữ sau của 4 câu đứng liền nhau, hoặc 4 câu đầu, hoặc 4 câu giữa, hoặc 4 câu cuối. Kỵ nhất là chữ thứ 5. Nếu 3 chữ cuối của 4 câu, nhất là chữ thứ 5, chữ làm thi nhãn cho câu thơ, đồng tự loại, thì câu thơ như chỏng đuôi lên cao. Do đó mà gọi là bệnh Thượng Vĩ, tức là bệnh Chỏng Đuôi.
Thí dụ:

KHÓC TRƯƠNG QUỲNH NHƯ

Trời xanh cao thẳm mấy từng khơi
Nỡ để duyên ai luống thiệt thòi
Buồn đốt lò vàng hương nhạt khói
Sầu nâng chén cúc rượu không hơi
Lầu tây nguyệt gác mây lồng bóng
Ải bắc hồng sang bể tuyệt vời
Một khối chung tình tan mấy mảnh
Suối vàng ai cũng thấu lòng ai

Phạm Thái

VIẾNG THÀNH HUẾ SAU NGÀY ĐÌNH CHIẾN

Nắng nhạt chiều thu quạ rộn ràng
Sầu vương lau lách lạnh thành hoang
Tro tàn thư viện duyên ngao ngán
Đá nát hoàng cung bước ngỡ ngàng
Gầy gọ gió sương tùng Thế miếu
Bẽ bàng trăng nước trúc Hương giang
Trông vời Thiên mụ mây man mác
Lơ lửng chuông hôm rụng tiếng vàng

Tú Xương

Những chữ ngao ngán, ngỡ ngàng, và Thế miếu, Hương giang tuy không đồng tự loại (một bên là trạng từ một bên là danh từ riêng) nhưng đều là tiếng đôi (từ kép), cho nên đứng sau tiếng Duyên, Bước, Tùng, Trúc, đều là danh từ chung, trở thành bộ ba gây ra bệnh Thượng Vĩ.

Nếu chữ thứ 5 tức chữ thi nhãn, của Hạm liên và của Cảnh liên không đồng tự loại, thì dù 2 chữ sau của cả 4 câu đều một tự loại cũng không bị bệnh.

Bệnh Thượng Vĩ xưa nay thường bị vấp. Trong những tác phẩm lưu truyền của các danh gia, chúng ta thường gặp những bài bị bệnh. Bị bệnh là vì thi nhân muốn cho câu thơ được già dặn hay dùng thực tự làm thi nhãn và quá chú trọng ở nhãn tự, nhiều khi quên nghĩ đến bệnh. Lúc đã nhận thấy lại tiếc chữ vừa ý, không muốn thay đổi.
Cho nên muốn tránh bệnh Thượng Vĩ, chúng ta nên để ý đến chữ thứ 5 của 4 câu đi liền nhau, đừng cho trùng tự loại.

3. PHONG YÊU

Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 2 trong cùng câu thì gọi là lỗi phong yêu.
Ví dụ:

Để bụng phải đeo điều nhẹ nặng
Ôm tai mặc quách tiếng chê khen
(Trần Tế Xương)

Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến
Giong lèo thây kẻ ráp xui ghềnh
(Hồ Xuân Hương)

4. HẠC TẤT

Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 4 trong cùng câu thì gọi là lỗi hạc tất.
Ví dụ:
Nghe lời phi pháp tai làm điếc
Nghĩ nỗi nhân tình ruột lại đầy
(Khuyết danh)

Tôn Phu Nhân Qui Thục
Cật ngựa thanh gươm ven chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
Về Hán trau tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn
Thà mất lòng anh được bụng chồng
(Tôn Thọ Tường)

Bài này câu 2 phạm phong yêu, câu 3 phạm hạc tất.

Cảm hoài
Chút nghĩa vương mang phải gắng đi
Tang bồng đành rõ khí nam nhi
Thuyền ngô phơi phới giăng hòn bạc
Khói đá phăng phăng lướt tích ti
La Hán dang tay chờ khách đến
Tướng quân hé mắt hẹn ngày về
Phen này miễn được hoà hai nuớc
Nỗi tớ xin đừng bận bịu chi
(Phan Thanh Giản)

Bài này câu 1, 4 phạm hạc tất, câu 5 phạm phong yêu.


5. CHÁNH NỮU

Trong một câu có nhiều hơn hai chữ có cùng phụ âm đầu (hoặc bắt đầu bằng nguyên âm, không có phụ âm đầu) thì phạm lỗi chánh nữu.
Ví dụ:

Lưng dậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao long lánh bóng trăng loe
(Nguyễn Khuyến)

6. BÀNG NỮU

Nếu các chữ có cùng phụ âm đầu hoặc bắt đầu bằng nguyên âm nằm gần nhau trên hai câu liên tiếp thì phạm lỗi bàng nữu.
Ví dụ:

Đón Tết
Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
Rượu cúc nhắn đem hàng biếng quẩy
Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu
Bánh đường sắp gói e nồm chảy
Giò lụa toan làm sợ nắng thiu
Thôi thế thì thôi đành tết khác
Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo
(Trần Tế Xương)

Câu 1, 8 và câu 7 phạm lỗi chánh nữu, câu 1-2 phạm lỗi bàng nữu.
Ví dụ:

Viếng thành Huế sau ngày đình chiến
Nắng nhạt chiều thu quạ rộn ràng
Sầu vương lau lách lạnh thành hoang
Tro tàn thư viện duyên ngao ngán
Đá nát hoàng cung bước ngỡ ngàng
Gầy gọ gió sương tùng Thế miếu
Bẽ bàng trăng nước trúc Hương giang
Trông vời Thiên Mụ mây man mác
Lơ lửng chuông hôm rụng tiếng vàng
(Trần Tế Xương)

7. ĐẠI VẬN

Bài thơ Đường luật chỉ gieo vần ở các chữ cuối câu. Nếu chữ thứ 4 trong câu cũng vần với chữ cuối câu thì phạm lỗi đại vận
Ví dụ:

Bâng khuâng ngày xế cả than trời
Ai đố cho người gánh nạn đời
Làng đế đành theo ông hữu đạo
Cõi phàm hỗ ngó lũ vô quân …
(Nguyễn Đình Chiểu)

Siếu mai chi dám tình trăng gió
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh
(Hồ Xuân Hương)

Nước non nào phải của ai đâu
Nhiều ít công hầu cũng mặc dầu
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

8. TIỂU VẬN

Nếu chữ thứ 2 trong câu vần với chữ thứ 6 hoặc thứ 7 thì phạm lỗi tiểu vận.
Ví dụ:

Chín bệ dâng lời dù khép nép
Bốn phương trông ngóng cũng nương nhờ
(Phan Huy Ích)

Ví dụ cả đại vận và tiểu vận:

Thi hỏng
Mai này tớ hỏng tớ đi ngay
Cúng giỗ từ nay nhớ lấy ngày
Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay
Sách đèn phó mặc đàn con trẻ
Thưng đấu nhờ tay một mẹ mày
“Cống hỉ” “mét xì” đây thuộc cả
Chẳng sang Tàu tớ cũng sang Tây
(Trần Tế Xương)

_________________
Tài Liệu Tham Khảo
Dương Quảng Hàm – Văn Học Việt Nam
Quách Tấn – Thi Pháp Thơ Đường

Gửi bàigửi bởi Võ Nhân Sơn » 22 Tháng 7 2013, 16:13

Cung Kiếm xin nhường trang tuấn kiệt
Cầm Thư góp nợ trả cho đời

saigonthisi
Bạn thân
Bạn thân
 
Bài viết: 119
Ngày tham gia: 26 Tháng 6 2013, 11:08
Đã cảm ơn: 1045 lần
Được cảm ơn: 719 lần

Re: 12 lỗi - 8 bệnh : của thơ Đường Luật

Tài liệu rất hay , cảm ơn anh Mặc Nhân Sơn . Đại loại , mỗi chữ trong thơ Đường là một viên ngọc . Tất cả 56 viên ngọc đấy và không viên nào được giống viên nào .
Cuối cùng , trăm điều khó trong Thơ Đường : Biết là biết – không là không . Tùy tiện làm bừa , hỏng thơ của các bạn đấy .
Chính thế , nên thà làm một bài rõ giá trị một bài , nếu tập được như vậy thì lo gì tài hoa không có lúc thăng tiến .
Mạn phép vài dòng vậy nhé . Thân mến .


( Không biết có được phép viết như thế trong Topic Tài liệu nầy không ? Nếu thấy không tiện thì Mod xóa giúp nhé ) .

Gửi bàigửi bởi saigonthisi » 22 Tháng 7 2013, 19:05

Trung Tâm Văn Hóa Thông Tin và Thể Thao Huyện Long Thành - Đồng Nai
Câu Lạc Bộ Thơ Long Thành .
*

Hình đại diện của thành viên
Võ Nhân Sơn
Supper Moderator
Supper Moderator
 
Bài viết: 1102
Ngày tham gia: 23 Tháng 5 2012, 10:39
Đã cảm ơn: 34859 lần
Được cảm ơn: 9141 lần

Re: 12 lỗi - 8 bệnh : của thơ Đường Luật

VÀI VẤN ĐỀ VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT NGŨ ĐỘ THANH(sưu tầm)


THƠ ĐƯỜNG LUẬT NGŨ ĐỘ THANH LÀ TINH HOA CỦA ĐƯỜNG LUẬT HAY LÀ SỰ “VẼ VỜI” CỦA NHỮNG NGƯỜI CHƠI THƠ ĐƯƠNG ĐẠI ?

Có rất nhiều người hỏi Linh Tâm: tại sao lại làm thơ Đường Luật Ngũ Độ Thanh và tại sao lại ép bản thân làm dạng thơ này ? Hai câu hỏi đó chỉ có 1 câu trả lời: Bởi vì thơ Đường Luật Ngũ Độ Thanh là dạng thơ mà trong đó có tính nhạc.

1.Tại sao gọi thơ Đường Luật Ngũ Độ Thanh là dạng thơ có tính nhạc?

Chúng ta quay ngược lại thời gian mà trước khi luật Đường Thi ra đời, đó là thơi kỳ Nhạc Phủ.

A-NHẠC PHỦ LÀ GÌ?

- Nhạc phủ nguyên là tên gọi cơ quan âm nhạc do Hán Vũ Đế (ở ngôi: 141 tr. CN – 87) lập nên và phong cho Lý Diên Niên chức Hiệp luật đô úy, để làm nhiệm vụ thu thập ca dao và thơ để phổ nhạc. Bài nào được chọn thì gọi là "nhạc phủ khúc", hoặc "thơ nhạc phủ", sau gọi vắn tắt là "nhạc phủ". Thành thử danh từ "nhạc phủ" dùng để chỉ nhiều thể văn có vần, phổ vào nhạc được. Trong số này, bộ phận được chọn nhiều nhất, có giá trị nhất là dân ca, bởi vậy từ "nhạc phủ" còn dùng để chỉ dân ca đời Hán (206 tr. CN-220) và Lục triều (220-581) ở Trung Quốc. Dịch Quân Tả, một học giả người Trung Quốc, khen:
“Thế là nền văn học bình dân phối hợp với nền văn học quý tộc. Sự kiện này có thể xem là một kỳ quan. Từ Hán đến Đường, nhạc phủ đã chi phối cả bầu trời văn học. Công việc này thực ra còn vĩ đại hơn công việc biên định thi ca của Khổng Tử nhiều lắm!”

Song thực tế, kể từ thời Nam Bắc triều (420-589) trở đi, vì các điệu nhạc mới ở nước ngoài du nhập nhiều, nên nhạc phủ không còn thích hợp nữa; mặc dù vậy, nó vẫn được sáng tác, tuy không còn được dùng trong ca nhạc.

-Sau khi nhà Hán sụp đổ, đất nước Trung Quốc chia đôi, miền Nam trải qua các triều đại Đông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, gọi chung là Nam triều; còn miền Bắc bị các dân tộc thuộc nền văn minh du mục như Tiên Ty, Hung Nô, Khương, Yết...chia nhau chiếm cứ, về sau thống nhất vào nhà nước Bắc Ngụy do họ Thát Bạt người Tiên Ty lập ra. Vào thơi kỳ này , các triều đại Lục triều cũng thiết lập cơ quan cơ quan Nhạc phủ do đó dân ca Lục triều cũng được gọi chung là Nhạc phủ. Nhạc phủ đại để có 2 loại:

+ Loại chịu ảnh hưởng của Sở từ (phương Nam) câu thường có 7 chữ, dùng chữ “hề” để đưa đẩy. Loại này là gốc lối thơ thất ngôn.
+ Loại chịu ảnh hưởng của Kinh Thi (phương Bắc) câu thường có 5 chữ. Loại này là gốc lối thơ ngũ ngôn.
-

Tầm ảnh hưởng của Nhạc phủ là rất lớn: Kể từ khi có nhạc phủ cho đến thời kỳ cận đại, lúc nào cũng có những sáng tác mô phỏng nhạc phủ. Tình hình đó đã tạo nên một loại thơ đặc biệt trong lịch sử thơ ca Trung Quốc. Nói khác hơn, theo GS. Nguyễn Khắc Phi, thì nhạc phủ Nhà Hán-Lục triều chính là nguồn nuôi dưỡng quý báu của dòng thơ bác học.

B-THƠ ĐƯỜNG LUẬT (LUẬT THI)

Tiền Mộc Yêm, tác giả sách Ðường Ẩm Thẩm Thể nói rằng: “Luật đây là sáu luật, là luật hòa hợp âm thanh. Luật thơ cũng giống như kỷ luật dụng binh, pháp luật hình án, nghiêm ngặt chặt chẽ, không được vi phạm”. Có thể giải thích thêm về thể cách của luật thi như sau:

a. Trong một câu, bằng trắc cần phải điều tiết.
b. Trong khoảng hai câu liền nhau, sự đối ngẫu cần phải khéo.
c. Trong một bài, âm thanh cần phải chọn sao cho có sự cao thấp, bổng trầm.
Tóm lại, ba điều kiện cần thiết của luật thi là niêm, luật và đối.

Về đối ngẫu, Lưu Hiệp đời Lục Triều, tác giả sách Văn Tâm Ðiêu Long, đã phân biệt bốn cách là: Ngôn đối, Sự đối, Chính đối và Phản đối. Ngôn đối là đối bằng lời suông. Sự đối là đối bằng điển cố. Hai câu mỗi câu trình bày một sự việc nhưng nói lên cùng một ý, là chính đối. Nếu hai sự việc đó trái ngược nhau, thì gọi là phản đối. Sự đối và phản đối khó làm hơn và có giá trị hơn là ngôn đối và chính đối.
Ðến thời Sơ Ðường, Thượng Quan Nghi phân biệt sáu cách đối là:

1. Chính danh đối, như càn khôn đối với nhật nguyệt.
2. Ðồng loại đối, như hoa diệp đối với thảo mao.
3. Liên châu đối, như tiêu tiêu đối với hách hách.
4. Song thanh đối, như hoàng hòe đối với lục liễu.
5. Ðiệp vận đối, như bàng hoàng đối với phóng khoáng.
6. Song nghĩ đối, như xuân thụ đối với thu trì.
(theo sách Thi uyển loại cách)

Một bài luật thi hoàn chỉnh dùng vào việc ứng chế, ứng thí, có thể định nghĩa là một bài thơ tám câu hoặc năm chữ ngũ ngôn luật thi hoặc bảy chữ thất ngôn luật thi, phải theo những qui tắc nhất định về niêm, luật; bốn câu 3,4 và 5,6 phải đối nhau từng đôi một.
Ngoài những bài có bốn câu giữa đối nhau, cũng có những bài hoặc sáu câu toàn đối, hoặc tám câu toàn đối.
Về vận, bài luật thi bắt buộc phải dùng vận chính (không được dùng vận thông, vận chuyển), căn cứ vào cuốn qui định vận bộ do triều đình ban hành. Ðời Ðường Huyền Tông có cuốn “Vận Anh”, cải biên theo cuốn “Thiết Vận” của Lục Pháp Ngôn đời Tùy, rồi cuốn “Ðường Vận” của Tôn Miễn, bổ khuyết sách trên.

C-THI PHÁP ĐƯỜNG LUẬT:

Thanh, Vận, Ðiệu là 3 yếu tố chính tạo ra thi nhạc, và nhạc là yếu tố làm cho thơ khác văn. Ðó là nói về tính chất, nói về nội dung. Còn nói về hình thức thì thơ khác văn do vận. Văn không vần nên gọi là Tản Văn. Thơ có vần nên gọi là Vận Văn.
Do đó trong ba yếu tố Thanh, Vận, Ðiệu. Vận chiếm địa vị quan trọng hơn cả.

Vận là gì ?
Sách xưa dạy:
Vận là những tiếng đồng âm với nhau, những tiếng khi phát âm nghe na ná như nhau.

Ðể giúp cho người làm thơ khỏi lạc đường và tới đích mau chóng, học giả Trung Hoa đã soạn nhiều bộ Thi Vận Tập Thành, thường gọi là sách quan vận, là vận thư. Ðời Tùy có sách Thiết Vận, đời Ðường có sách Ðường Vận, Quảng Vận, đời Tống châm chước những bộ sách đời trước, soạn ra bộ Lễ Bộ Vận Lược, được triều đình dùng làm chuẩn tắc cho thi vận trong việc khảo thí. Các đời sau cũng theo gương đời Tống, soạn ra những sách quan vận mới. Nhà Nguyên có sách Trung Nguyên Âm Vận, nhà Thanh có sách Bội Văn Vận Phủ, Trung Hoa Dân Quốc có Trung Hoa Tân Vận ...Sách Trung Hoa Tân Vận chưa được đem ra áp dụng. Ðược thông dụng nhất là Bội Văn Vận Phủ.

Theo quyển vận thư này thì thi vận xếp theo ngũ thanh (thượng bình, hạ bình, thượng, khứ, nhập) và có tất cả 106 vận. Thượng bình có 15 vận là Ðông (phương Ðông). Đông (mùa Ðông), giang, chi, vi, ngư, ngu , tề, giai, khôi, chân, văn, nguyên, hàn, san. Hạ bình có 15 vận là tiên, tiêu, hào (hỗn hào), hào (hào kiệt), ca, ma, dương, canh, thanh, chưng, vưu, xâm, đàm, diêm, hàm. Hai thanh Bình hợp lại gọi là Bằng, vần Bằng. Còn vần Trắc thì gồm tất cả các vận trong các thanh Thượng, Khứ, Nhập, tất cả có 76 vận. Ðể khỏi bị lạc vận, cổ nhân thường học thuộc lòng những chữ xếp vào bình thanh và khi cần, mở sách ra tra cứu.


Linh Tâm

(tiếp theo)

Gửi bàigửi bởi Võ Nhân Sơn » 23 Tháng 7 2013, 08:18

Cung Kiếm xin nhường trang tuấn kiệt
Cầm Thư góp nợ trả cho đời

Hình đại diện của thành viên
Võ Nhân Sơn
Supper Moderator
Supper Moderator
 
Bài viết: 1102
Ngày tham gia: 23 Tháng 5 2012, 10:39
Đã cảm ơn: 34859 lần
Được cảm ơn: 9141 lần

Re: 12 lỗi - 8 bệnh : của thơ Đường Luật

(Tiếp theo)

2. THƠ ĐƯỜNG LUẬT LÀ SỰ “VẼ VỜI” CỦA NHỮNG NGƯỜI CHƠI THƠ ĐƯƠNG ĐẠI?

Linh Tâm xin thưa với các bạn thơ Đường Luật Ngũ Độ Thanh không phải là sự “vẽ vời” như nhiều người lầm tưởng, mà trên hết đó là dạng thơ có từ thời nhà Hán với Nhạc phủ rồi đến khi Luật Thi ra đời. Các tiền nhân ngày xưa đã kết hợp Nhạc phủ vào Đương Thi và nổi trội hơn cả là Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu với 4 câu đầu trong bài thơ :

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du

Mọi người khi nhìn vào 4 câu này đều cho rằng Thôi Hiệu (khoảng 704–754 đời Đường Huyền Tông) làm bài thơ này là thơ Cổ Phong chứ ko phải thơ Đường (sai luật, điệp từ Hoàng Hạc đến 3 lần) nhưng nếu tìm hiểu kỹ thì đây là sự cách tân của ông với 4 câu đầu làm theo điệu thức từ thời kỳ đầu của Nhạc phủ Nam triều (Mã Mậu Nguyên khi chú giải Hoàng Hạc Lâu cho ta biết: “Bốn câu đầu bài thơ này dùng ba chữ hoàng hạc liên tiếp nhau, kiểu câu này bắt đầu từ nhạc phủ Nam triều, người đời Đường đưa nó vào luật thi, hình thành một loại biệt điệu của thất ngôn luật thi”. Xin xem: Mã Mậu Nguyên tuyển chú: Đường thi tuyển, Thượng Hải Cổ Tịch xuất bản xã, bản 1999).

Ngoài nhạc phủ Nam triều ra, ở đầu đời Đường, Thẩm Thuyên Kỳ từng sử dụng điệu thức này khi trước tác Long trì thiên. Như vậy, sáng tạo của Thôi Hiệu là kế thừa truyền thống. Ông không bịa chuyện, cũng không hoàn toàn “hư cấu” nên mô thức mới. Thôi Hiệu đã tìm được sự gợi ý từ những sáng tạo của tiền nhân. Chính điều này đã khiến những cách tân của ông, như nói ở trên, đã không gây sốc đối với độc giả. Lý Bạch sau khi đọc biết ngay đó là bài thơ vô tiền khoáng hậu, đành chấp nhận gác bút.

Một câu hỏi tiếp: tại sao cũng kế thừa tiền nhân (không chỉ Thẩm Thuyên Kỳ, sau Thôi Hiệu còn có Lý Bạch cũng sử dụng mô thức này), song chỉ có Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu lưu danh thiên cổ?

Cùng với những phân tích ở bài viết trước, chúng tôi xin nhấn mạnh thêm, chính Thôi Hạo, qua mô thức tự sự / trữ tình được thực hiện bởi những âm thanh được lạ hóa đến mức cực đoan ở liên thứ hai đã thổi hồn vía Thịnh Đường vào câu chuyện truyền thuyết, khiến Hoàng Hạc Lâu của ông vượt qua tiền nhân và làm bó tay tất thảy thi nhân đời sau, không ai - kể cả Lý Bạch - có thể làm hay hơn được.

Nói đến luật thi Thịnh Đường, phải kể đến Đỗ Phủ. Những sáng tạo mới mẻ về luật thi đã đem lại cho Đỗ Phủ vinh dự lớn lao, trở thành tập đại thành của thơ ca Thịnh Đường, được đời sau phong danh hiệu Thi Thánh. Một số tác phẩm luật thi của ông như Đăng cao, Thu hứng bát thủ đã trở thành những đỉnh cao của thể loại này về cả quy mô và sự đa dạng. Thế nhưng, những sáng tạo luật thi của Đỗ Phủ đi theo con đường chính cách, do vậy trước nay chỉ có những lời trầm trồ khẳng định, chứ ít có những ý kiến trái chiều. Thôi Hạo thì khác. Sáng tạo luật thi của ông không chỉ xuất hiện ở thời kỳ đầu, mà còn thuộc loại độc nhất vô nhị. Điều đó đã tạo ra khoảng cách thẩm mỹ nhất định đối với người đọc đương thời và tạo nên hố ngăn cách đối với độc giả ngày nay - những người bị đứt gãy với văn hóa văn học truyền thống.

Nói tóm lại, với những tìm tòi và kế thừa tinh hoa truyền thống, với những sáng tạo vượt bậc đưa luật thi lên tầm cao mới, đặc biệt hơn, với những cách tân táo bạo nhằm cải biến luật thi, phá vỡ khuôn khổ chật hẹp, mở rộng chiều kích của thể loại này, Thôi Hạo xứng đáng được coi là nhà cách tân luật thi hàng đầu thuộc thời kỳ thứ nhất của “cải cách văn phong văn thể” ở đời Đường. Cống hiến của Thôi Hạo cho luật thi vì thế thuộc loại tiên phong, vượt tầm thời đại. Có lẽ bởi thế mà hai vị thi luận gia nổi tiếng nhất thời cổ đại là Nghiêm Vũ và Kim Thánh Thán đều nhất trí cho HHL không chỉ là tác phẩm luật thi, mà còn là trước tác “đệ nhất”. HHL của Thôi Hạo quả đã từng tạo ra hố ngăn cách giữa cổ nhân và kim nhân, song tác phẩm này cũng sẽ lại chính là nhịp cầu xóa đi khoảng cách, kết nối truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế.

Vậy thơ Đường Luật Ngũ Độ Thanh là 1 dạng thơ được kết hợp nhạc tính của thời kỳ Nhạc phủ với thi luật thời Đường chứ không phải là sự “vẽ vời” của những người chơi thơ đương đại như nhiều người lầm tưởng. Linh Tâm qua quá trình tìm hiểu cũng đã mạnh dạn áp dụng những kiến thức ở trên mà làm dạng thơ Đường Luật Ngũ Độ Thanh. Dạng thơ này là cách sắp xếp các thanh làm sao cho nó hài hòa và có âm bổng trầm khác nhau. Khi làm thơ Ngũ Độ Thanh mọi người đôi khi rất nản chí vì phải gò ép và mất thời gian vì phải vận dụng rất nhiều từ ngữ để sắp xếp làm sao 1 câu có 5 thanh dấu: 1 câu thơ thất ngôn bát cú có 4 thanh bằng 3 thanh trắc hoặc 4 trắc 3 bằng, trong đó:

+ 1 câu thất ngôn bát cú 4 thanh bằng 3 thanh trắc: thì 2 thanh bằng có cùng dấu (không dấu hoặc dấu huyền) không được đứng liền kề nhau, 3 thanh trắc thì tùy nghi mà sắp xếp Sắc – Hỏi – Ngã – Nặng sao cho phù hợp với câu thơ.
+ 1 câu thất ngôn bát cú 4 thanh trắc 3 thanh bằng: thì câu thơ đó phải đầy đủ 4 thanh Sắc – Hỏi – Ngã – Nặng, 3 thanh bằng thì 2 thanh Không hoặc thanh Huyền không được đứng liền kề nhau.

Nhưng bên cạnh đó thơ Ngũ Độ Thanh còn có thể giúp chúng ta tránh được các lỗi bệnh trong thơ Đường Luật. Tất cả những gì Linh Tâm đang làm về dạng thơ Đường Luật Ngũ Độ Thanh đều là học hỏi từ các tiền nhân. Lúc đầu làm dạng thơ này Linh Tâm cũng đã rất nản chí nhưng khi đã làm được thì sẽ tự nhiên có rất nhiều hứng thú với dạng thơ này. Hiện nay Linh Tâm đã thấy khá nhiều các thi hữu có hứng thú làm dạng thơ này ở các trang mạng xã hội hay các web thi đàn nên nhân đây Linh Tâm đã tổng hợp các tài liệu mà Linh Tâm từng đọc và biên khảo lại để mọi người hiểu rõ hơn về dạng thơ Đường Luật Ngũ Độ Thanh để tránh việc nhiều người lầm tưởng đây là sự “vẽ vời” của những người thơ đương đại.

Chúc tất cả các thi hữu thành công và phát triển dạng thơ Ngũ Độ Thanh đến với những người yêu thơ Đường Luật.


Linh Tâm

Gửi bàigửi bởi Võ Nhân Sơn » 23 Tháng 7 2013, 08:34

Cung Kiếm xin nhường trang tuấn kiệt
Cầm Thư góp nợ trả cho đời

Hình đại diện của thành viên
Võ Nhân Sơn
Supper Moderator
Supper Moderator
 
Bài viết: 1102
Ngày tham gia: 23 Tháng 5 2012, 10:39
Đã cảm ơn: 34859 lần
Được cảm ơn: 9141 lần

Re: CHÚ Ý : 12 lỗi - 8 bệnh : thơ Đường Luật

ĐƯỜNG LUẬT

Thơ Đường luật hay Thơ luật Đường là thể thơ Đường cách luật xuất hiện từ đời nhà Đường (Tang), Trung Quốc. Thơ Đường luật gọi là thơ cận thể để đối lập với thơ cổ thể, không theo cách luật ấy[1].

Vì giáo dục, thi cử... đều bằng tiếng Hán, nên từ lâu người Việt Nam đã sáng tác thơ văn bằng tiếng Hán, trong đó có thơ theo luật Đường.

Nguyễn Thuyên là người đầu tiên đưa tiếng Việt vào thơ văn, đặt ra thể thơ Hàn luật, là sự kết hợp thơ Đường luật với các thể thơ dân tộc Việt [1].

Thể loại thơ này của Việt Nam kéo dài từ thời nhà Trần cho đến nửa đầu thế kỷ 20. Kể từ phong trào Thơ Mới trở đi, số người trong nước làm luật thi đã bị giảm đi đáng kể.

Bố cục một bài thơ Thất ngôn bát cú Đường luật gồm 4 phần: Đề, thực, Luận, Kết. -"Đề" gồm 2 câu đầu,câu đầu goị là câu phá đề, câu thứ 2 gọi là câu thừa đề, chuyển tiếp ý để đí vào phần sau. -"Thực" gồm 2 câu tiếp theo, giải thích ró ý đầu bài. -"Luận" gồm 2 câu tiếp theo nữa, phát triển rộng ý của đầu bài. -"Kết" là 2 câu cuối, kết thúc ý toàn bài.

Thơ Đường luật nghiêm khắc ở 3 chỗ: Luật, Niêm và Vần. Về hình thức, thơ Đường luật có các dạng "thất ngôn bát cú" (tám câu, mỗi câu bảy chữ) được xem là dạng chuẩn, biến thể có các dạng: "thất ngôn tứ tuyệt" (bốn câu, mỗi câu bảy chữ), "ngũ ngôn tứ tuyệt" (bốn câu, mỗi câu năm chữ), "ngũ ngôn bát cú" (tám câu, mỗi câu năm chữ) cũng như các dạng ít phổ biến khác. Người Việt Nam cũng tuân thủ hoàn toàn các quy tắc này.

Luật

Luật thơ Đường căn cứ trên thanh bằng và thanh trắc, và dùng các chữ thứ 2-4-6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật. Thanh bằng gồm các chữ có dấu huyền hay không dấu; thanh trắc gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng.

Luật bằng trắc

Nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có "luật bằng"; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi là bài có "luật trắc". Trong một câu, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải giống nhau về thanh điệu, và chữ thứ 4 phải khác hai chữ kia. Ví dụ, nếu chữ thứ 2 và 6 là thanh bằng thì chữ thứ 4 phải dùng thanh trắc, hay ngược lại. Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy định này thì được gọi "thất luật".

Ví dụ: xét câu "Bước tới đèo Ngang bóng xế tà" trong bài Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan, có các chữ "tới" (thứ 2) và "xế" (thứ 6) giống nhau vì đều là thanh trắc còn chữ "Ngang" là thanh bằng thì đó là bài thất ngôn bát cú luật trắc.

Luật bằng trắc trong thể Thất ngôn tứ tuyệt và Thất ngôn bát cú có thể nôm na liệt kê như sau, nếu chỉ vần bằng bằng chữ "B", vần trắc bằng chứ "T", những vần không có luật để trống, thì luật trong các chữ thứ 2-4-6-7 có thể viết là:

1. Luật vần bằng

Thất ngôn tứ tuyệt

Câu số Vần Ví dụ: Mời trầu1 của Hồ Xuân Hương
1 B T B B Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
2 T B T B Này của Xuân Hương mới quệt rồi
3 T B T T Có phải duyên nhau thì thắm lại
4 B T B B Đừng xanh như lá, bạc như vôi
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7

Thất ngôn bát cú

Câu số Vần Ví dụ: Thương vợ1 của Trần Tế Xương

1 B T B B Quanh năm buôn bánmom sông
2 T B T B Nuôi đủ năm con với một chồng
3 T B T T Lặn lội thân khi quãng vắng
4 B T B B Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
5 B T B T Một duyên hai nợ âu đànhphận
6 T B T B Năm nắng mười mưa dám quản công.
7 T B T T Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!
8 B T B B Có chồng hờ hững cũng như không!

Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7

2. Luật vần trắc

Thất ngôn tứ tuyệt

Câu số Vần Ví dụ: Phong Kiều dạ bạc (楓橋夜泊)
của Trương Kế (张继 Zhang Jì) Phiên âm Hán-Việt
1 T B T B 月落烏啼霜滿天 Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
2 B T B B 江楓魚火對愁眠 Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
3 B T B T 姑蘇城外寒山寺 Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
4 T B T B 夜半鐘聲到客船 Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7

Bản dịch tiếng Việt của Tản Đà (chuyển thể thành lục bát):

Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều
Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bãi sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Thất ngôn bát cú

Câu số Vần Ví dụ: Nhớ bạn phương trời1 của Trần Tế Xương

1 T B T B Ta nhớ người xa cách núi sông
2 B T B B Người xa, xa lắm nhớ ta không
3 B T B T Sao đương vui vẻ ra buồn bã!
4 T B T B Vừa mới quen nhau đã lạ lùng
5 T B T T Lúc nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng
6 B T B B Khi riêng, riêng cả đến tình chung
7 B T B T Tương tư lọ phải là trai gái,
8 T B T B Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7

Luật đối

Nguyên tắc cố định của một bài thơ Đường là ý nghĩa của hai câu 3 và 4 phải "đối" nhau và hai câu 5, 6 cũng "đối" nhau. Đối thường được hiểu là sự tương phản (về nghĩa kể cả từ đơn, từ ghép, từ láy) nhưng bao gồm cả sự tương đương trong cách dùng các từ ngữ. Nếu một bài thơ Đường mà các câu 3, 4 không đối nhau, các câu 5, 6 không đối nhau thì được gọi "thất đối".

Ví dụ: hai câu 3, 4 trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:

Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà,2
"Lom khom" đối với "lác đác" (hình thể và số lượng - thực ra hai câu này chưa phải đối hoàn chỉnh), "dưới núi" đối với "bên sông" (vị trí địa hình), song nếu nối hình ảnh hai câu trên "lom khom dưới núi" và "lác đác bên sông" thì vì một câu diễn tả về cảnh động, còn một câu diễn tả về cảnh tĩnh, nên sự đối lập có thể chấp nhận được. Một điểm nên chú ý là cách dùng từ láy âm "lom khom" chỉ dáng người của câu trên, và "lác đác" chỉ số lượng của câu dưới. Hai vế tiếp: "tiều vài chú" đối với "chợ mấy nhà" (đối lập về số lượng và tĩnh/động). Sự đối lập của hai vế cuối có thể coi là hoàn chỉnh. Xin xem thêm về thơ đối hoặc Câu đối Việt Nam để hiểu thêm về luật đối trong thơ.

Niêm

Các câu trong một bài thơ Đường giống nhau về luật thì được gọi là "những câu niêm với nhau" (niêm = giữ cứng, ở đây được hiểu là giữ giống nhau về luật). Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ thứ nhì của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Ở những câu theo nguyên tắc là cần phải niêm, nếu tác giả sơ xuất mà làm thành không niêm thì bài đó bị gọi là "thất niêm".

Nguyên tắc niêm trong một bài thơ Đường chuẩn (thất ngôn bát cú) như sau:

câu 1 niêm với câu 8
câu 2 niêm với câu 3
câu 4 niêm với câu 5
câu 6 niêm với câu 7
Chẳng hạn với luật vần bằng:

- B - T - B B
- T - B - T B
- T - B - T T
- B - T - B B
- B - T - B T
- T - B - T B
- T - B - T T
- B - T - B B

Ví dụ: Xét trong bài thơ Qua đèo Ngang, hai câu thứ 2 và thứ 3:

Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú

Vần

Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ. Trong một bài thơ Đường chuẩn, vần được dùng tại cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8. Những câu này được gọi là "vần với nhau". Nếu một bài thơ Đường mà chữ cuối của một trong các câu này không giống nhau về vần thì được gọi "thất vận".

Những chữ có vần giống nhau hoàn toàn gọi là "vần chính", những chữ có vần gần giống nhau gọi là "vần thông". Hầu hết thơ Đường dùng vần thanh bằng, nhưng cũng có các ngoại lệ.

Ví dụ: hai câu 1, 2 trong bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:

Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
hai chữ "tà" và "hoa" được xem là vần với nhau, nhưng ở đây là "vần thông" vì chỉ phát âm gần giống nhau.

Biến thể

Ngoài dạng thơ Đường chuẩn luật là "thất ngôn bát cú" còn có các biến thể sau:

Thất ngôn tứ tuyệt

Thực chất là một bài "thất ngôn bát cú" đem bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối. Luật bằng trắc và niêm, vần... vẫn giữ nguyên, có thể bỏ luật đối ở hai câu 3, 4 hoặc 5, 6. Lúc này nó sẽ thành một bài thơ "bốn câu ba vần" mà Nguyễn Du đã nhắc trong truyện Kiều.

Ví dụ: bài thơ sau của Quách Tấn

Từ buổi thuyền đưa khách thuận dằm
Trông chừng bến cũ biệt mù tăm
Cảm thương chiếc lá bay theo gió
Riêng nhớ tình xưa ghé đến thăm

Ngũ ngôn tứ tuyệt

Thực chất là bài thất ngôn tứ tuyệt đem bỏ đi hai chữ đầu ở mỗi câu; các chữ còn lại vẫn giữ nguyên luật bằng trắc, niêm và vần.

Ví dụ: từ bài trên mà thành

Thuyền đưa khách thuận dằm
Bến cũ biệt mù tăm
Chiếc lá bay theo gió
Tình xưa ghé đến thăm

Ngũ ngôn bát cú

Cũng là từ bài thất ngôn bát cú bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu mà thành, luật bằng trắc, niêm và vần ở các chữ còn lại vẫn giữ nguyên.

Yết hậu
Yết Hậu3 (yết: nghỉ; hậu: sau) là lối thơ có ba câu trên đủ chữ, còn câu cuối cùng chỉ có một chữ.

Ví dụ: bài Lươn

Cứ nghĩ rằng mình ngắn,
Ai ngờ cũng dài đườn.
Thế mà còn chê trạch:
Lươn!

(sưu tầm) Tác giả :Vô Danh

Gửi bàigửi bởi Võ Nhân Sơn » 24 Tháng 7 2013, 13:05

Cung Kiếm xin nhường trang tuấn kiệt
Cầm Thư góp nợ trả cho đời

Hình đại diện của thành viên
Võ Nhân Sơn
Supper Moderator
Supper Moderator
 
Bài viết: 1102
Ngày tham gia: 23 Tháng 5 2012, 10:39
Đã cảm ơn: 34859 lần
Được cảm ơn: 9141 lần

Re: CHÚ Ý : suy nghĩ thơ Đường thời @

SUY NGHĨ VỀ
THƠ LUẬT ĐƯỜNG THỜI @
Ngọc Châu
Đường Thi hay thơ viết theo luật thơ Đường có thể ví như là một dòng sông văn chương khởi nguyên từ đất Hán, tạo ra những biển hồ bao la nhưng cuối cùng lại thu nhỏ thành sông và đang có trào lưu ra biển ở đất Việt. Tuy xuất xứ từ đời nhà Đường bên Trung Hoa nhưng người Việt chúng ta đã từng có hàng nghìn năm thưởng thức và sử dụng nó để chuyển tải nhiều vấn đề, không chỉ trong khía cạnh văn chương đơn thuần.
Hiện tại chính người Trung Hoa viết nó còn khó khăn và thậm chí không hay bằng người Việt mình viết ra, vì tiếng Tầu (Mandarin Chinese) ngày nay đã thay đổi rất nhiều về âm sắc lẫn hình thái, nhằm khắc phục nhược điểm của thứ ngôn ngữ tượng hình, để họ dễ tiếp cận với thế giới. Trong khi ngữ pháp và âm sắc tiếng Việt ta tuy được nâng cao và bổ xung nhiều, nhưng không có sự rẽ ngang đột ngột nào.

Chúng ta đều biết thơ luật Đường đã bị xếp xó từ những năm 30 của thế kỉ trước, nhường chỗ cho Thơ Mới nhưng bất cứ trào lưu gì cũng đều chuyển động theo hình sin, khác nhau chăng là về biên độ. Ngày nay trình độ dân trí của người Việt ta đã được nâng lên một mức khá cao so với ngày đó, nên mới có hiện tượng hàng triệu người làm thơ, yêu thơ - trong đó nhiều người là hội viên của CLB Unesco thơ Đường Việt Nam, bao gồm rất nhiều Chi nhánh trên toàn quốc.
Phải thừa nhận một thực tế là đại đa số người làm Đường thi hiện nay thuộc về lớp người cao tuổi. Các cụ rất tâm đắc với Đường thi, sáng tác nhiều, duy trì sinh hoạt Câu lạc bộ đều đặn, thường xuyên tổ chức giao lưu giữa các vùng miền khác nhau để học hỏi và tạo nguồn thi hứng. Một cố gắng chung của CLB thơ Đường Việt Nam cũng như của các Chi nhánh là luôn có ấn phẩm mới, từ những tập Đường thi mỏng vài chục trang của cá nhân các thi lão tới những tập hàng trăm trang của chi nhánh vùng miền; Đặc biệt là nhiều tập Thơ Đường luật Việt Nam do CLB Unesco Việt Nam chủ trì tuyển chọn với độ dày hàng ngàn trang, có dung lượng hàng ba bốn ngàn bài thơ mỗi tập, in ấn theo giấy phép của các Nhà Xuất bản gạo cội (Văn Học, Hội nhà văn...) đã đem lại sự kính nể cho người đọc, là thú vui tao nhã cho người yêu văn chương khi đọc cũng như bàn luận chuyện văn chương-thế sự.

Tuy nhiên cũng sẽ không quá hàm hồ khi nêu ra vấn đề, rằng đại đa số Hội viên mới chỉ coi Thơ Đường luật Việt nam là một "Sân chơi của Tuổi già", chưa quan tâm tới việc nâng cao và tạo sự hấp dẫn hơn nữa đối với mọi giới - nhất là giới trẻ - để ít nhất duy trì được truyền thống "tre già măng mọc", nhiều hơn nữa là nâng tầm tác động và hiệu năng của thơ luật Đường lên ngang với các loại hình thơ ca khác trong tâm hồn con người cũng như với đờì sống xã hội.
Thực trạng hiện nay là ngoài các "thi hữu nghiệp dư" cao tuổi, các nhà thơ mang tính chuyên nghiệp ít người thích làm thơ luật Đường, không kể tới những "nhà thơ trẻ" với "hậu hiện đại", sợ thơ luật Đường như con khỉ Tôn Ngộ Không sợ vòng Kim cô, vì ngay việc vào trạn lục bát đựng mấy câu ru trẻ con cũng đã thấy ngại với nhiều thứ vướng víu!
Phải chăng có hiện trạng đó một phần (nhưng có lẽ là phần quan trọng nhất) do quan niệm và yêu cầu về niêm luật trong thơ Đường hiện nay còn quá cứng nhắc. Chính vì cứng nhắc nên ngay các bài thơ hay của các cụ để lại cũng không nhiều, xưa đã thế và nay đang thế. Cả ngàn năm người Việt làm thơ Đường mà số bài hay, đáng cho đời sau ngâm ngợi có được bao nhiêu đâu! Xem trích dẫn của nhiều học giả viết tham luận về Đường thi, ai cũng thấy là ngoài một số bài của Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương... ra nếu không trích mượn của các thi sĩ Tầu chính hiệu như Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị... thì đành chấm hết!

Người viết bài này hiện đang tham gia biên tập Đường thi cho ba Website văn chương là Vanthoviet.com, Vandanviet.net và Thoduongdatviệt, cũng là hội viên của Chi nhánh Unesco thơ Đường Hải Phòng nên tin rằng nhận xét của mình không sai cho lắm. Chọn trong một tập Đường Thi bìa cứng, dày cộp do các nhà xuất bản đáng trọng (cỡ Văn Học, Hội Nhà Văn...) chịu trách nhiệm cho ra lò mà chỉ tìm được non trăm bài có thể giới thiệu lên các Website văn chương mà thôi.
Để có thể làm sống lại mãi mãi Thơ Đường luật Việt Nam và nâng tầm hiệu quả cho Đường thi ngang với các loại hình văn chương khác, tôi trộm nghĩ phải có sự đổi mới và cách tân một cách hợp lí. Điều này lại phải chính do lớp người có tuổi (bị coi là bảo thủ và ngại thay đổi) tiến hành nên sẽ là một chuyện khó, nhưng vẫn có thể làm được vì thơ và người làm thơ xưa nay vốn "không có tuổi". Không hiếm các cụ "ấu-vờ tám chục" vẫn viết thơ tình, thậm chí là thơ thiếu nhi khá hay.

Non một thế kỉ trước thơ luật Đường đã bị xếp vào góc nhà, vì cái khung của nó không chứa nổi lượng tri thức cũng như hoài bão của "Người Tân Thời" hồi đó. Ngày nay công nghệ thông tin lại phát triển đến mức số lượng tin tức-tri thức chúng ta có thể tiếp nhận trong một ngày bằng cả trăm năm trước đây. Nếu moi thơ Đường ra để coi là cổ vật hoặc chỉ để các bô lão ngâm ngợi lúc trà dư tửu hậu thì lại là một chuyện, tùy theo ý thích của mỗi người vì đó đang là một nhu cầu thực tế.
Nhưng cũng có nhiều người viết thơ Đường luật ngày nay muốn thổi được luồng gió mới vào nó, nâng tầm cho nó với nguyên tắc cái gì hay giữ lại, cái gì dở hoặc trói buộc tư duy mĩ cảm của thời @ thì phải chỉnh lí, thậm chí nhích rào cho không gian rộng rãi hơn.

Tôi trộm nghĩ rằng đã là thi sĩ thì phải trọng tứ thơ, ý thơ hơn so với từ ngữ. Ví như trong một xưởng chế tác đồ mĩ nghệ thợ giỏi có thể chế tác được khá nhanh những mỹ vật tinh xảo mang tính hàng hóa nhưng vẫn chỉ là thợ giỏi thôi. Chỉ có nghệ nhân mới có thể sáng tạo ra mẫu mã mới, thậm chí có thể sửa lại một vật phẩm bị hỏng, gãy thành một tác phẩm mới, mang vẻ đẹp mới, trở thành mẫu cho thợ trẻ chế tác theo.
Nếu không có đầu óc cách tân, không dám cách tân để loại cái dở, bổ xung cái hay (cũng là đặc trưng cơ bản của sự phát triển của xã hội loài người) vào bất cứ môn nghệ thuật nào thì có cho ra sản phẩm tinh xảo đến đâu cũng vẫn chỉ là thợ làm thơ mà thôi, chưa thể được coi là Thi nhân. Điều này thể hiện bằng những bài thơ đọc xuôi đọc ngược đều có nghĩa, tốn rất nhiều thời gian để tìm và xếp từ nhưng tiếc thay, không có ý thơ nào đọng được trong lòng người nghe!
Mặt khác cũng phải thấy rằng dù với cái khuôn lề luật rất gò bó vẫn có thể làm được những bài Đường thi nghe được, tải được mọi tư tưởng và tình cảm của thời @. Xin phép được nêu một vài ví dụ:

Khi tả cảnh:
Hạ Long
Biển đẹp nên rồng hạ xuống đây
Người xinh khiến khách luyến nơi này
Lang thang khói biếc, tàu rời bến
Đứt đoạn trời xanh, núi đỡ cây
Cát ước vào tim thành ngọc sáng
Ta mơ hòa gió động mi gầy
Đường thi gửi tới em nơi đó
Liệu có bao giờ chạm tóc mây?
NC

Tiếng Gọi Cồn Vành
Em hãy về đây Tiên cá ơi
Đến nơi nước biếc thắm cây đời
Vui hòa nắng mới, cồn nghiêng ngả
Say quyện trăng tà, sóng lả lơi.
Mở túi càn khôn đong vị biển
Mang bầu tâm sự ướp hương trời
Tri âm quên hết sầu nhân thế
Thức với yên bình giữa gió khơi...
( Tạ Thị Mai - Hải Phòng)

Khi tả tình
Xin nhau một ngày

Chỉ một ngày thôi muốn có anh
Dù tình xưa ấy đã tan tành
Buồn đau thả bớt theo mây buốt
Hận uất san phơi dưới gió lành
Cộng lại hai ta thành lửa bỏng
Chia riêng mỗi đứa hóa trăng thanh
Xa nhau để chẳng gây bão tố
Chỉ một ngày thôi đến với tình...
NC
Viết về Lễ hội
Vấp

Bạn đã bao giờ vấp bóng chưa?
Như lần đến dự hội trời mưa.
Say câu quan họ em mời gọi
Trượt bã trầu vương tôi thẩn thơ
Nhớ khúc giao duyên người để lại
Buồn câu tiễn biệt khách xa đưa
Về Lim dự hội ai không vấp
Vấp phải mình ngay giữa giấc mơ!
NC

Khi viết về đề tài thời sự-xã hội:
Lấy chồng xa xứ

Xa xứ người xưa giã biệt rồi
Ngàn trùng cách trở lắm em ơi!
Quê hương để lại niềm thương nhớ
Bến nước còn lưu gót dấu ai
Ruột thắt theo chồng sang đất buốt
Lòng đau gửi mẹ chốn trời oi
Nghèo hèn phải đổi tình ra bạc
Kiếp bướm mơ tìm cõi Liễu Trai!
NC
ĐỒNG LỘC HÈ 2010

Đồng Lộc nghẹn ngào câu khấn nguyện,
Trường Sơn thổn thức tiếng ru hời.
Gương trong chục cái mong soi tỏ,
Cúc trắng mười bông ước ngậm cười.
Dâng nén hương thơm trào nước mắt,
Nhìn khung di ảnh vẫn vui tươi
Xin về chải tóc làm duyên nhé
Nước đã yên bình các chị ơi!
(Trần Quốc Hùng)

Hay bài dưới đây
ANH NẰM ĐÓ

Đất mẹ anh về một sáng nao
Dế giun làm bạn - cỏ xanh đầu
Gió sương ủ ấp lờì ru thoảng
Mưa nắng vỗ về giấc mộng sâu
Đau đớn dâng tràn lên bạn hữu
Hận thù trả lại vớí trăng sao
Nghĩa trang hiu hắt - chiều hoang lạnh
Lặng lẽ hoàng hôn - nắng uá mầu
(Khánh Chân-Biên Hòa)

Có thể dùng Đường thi viết rất thoáng về tôn giáo

Ở CỔNG THIÊN ĐƯỜNG

Đã tưởng sắp vào nước Chúa Lời
Vậy mà chỉ liếc mắt nhìn thôi
Linh hồn thoắt cái đi về đất
Thể xác trơ ra đứng giữa trời
Cứ nghĩ đời này không thấy được
Nào hay người ấy có đây rồi
Thôi vậy đành ngược đường tìm kiếm
Nơi có nàng thì ắt có tôi.

Hoặc như bài:

EM VÀ CHÚA

Chợt giáo đường quen xuất hiện em
Xưa nay chỉ nguyện ước bình yên
Một ngày đôi mắt đen mê hoặc
Cả tháng dòng tim đỏ hẫng chìm
Bỗng chốc nàng lên ngôi chúa tể
Suốt đời tôi xuống chốn bùn đen
Vì chưng đã trót quên hình Chúa
Đức Mẹ giờ mang bóng dáng em!

Và đây là đề tài nude hót và rất @

BẤT NGỜ

Thật bất ngờ khi chợt thấy em
Khoe mình giữa suối nước thân quen
Anh thành Từ Thức đang mơ mộng
Em hóa Nàng Tiên đã hẹn duyên
Ốc đảo hồng tươi như trái cấm
Đào nguyên xanh ngắt tựa lâm tuyền
Anh hư chỉ muốn làm ma quỉ
Để xiết ghì nhau thỏa khát thèm!
NC

Hoặc như bài:

GHEN

Nhà thơ đứng lạnh đợi bên thềm
Muốn được cùng ai nhóm lửa lên
Láo xược trăng len nhòm ngó thử
A dua gió thổi hất tung rèm
Tiên nương say ngủ nào đâu biết
Bồng đảo mơ màng vẫn lộ thiên
"Hen" quá thi nhân liều động cửa
Ngờ đâu "cún" đợp mấy răng liền!!
NC

Tình cảm tuổi teen hoàn toàn có thể dùng Đường thi diễn tả:

ĐÂU RỒI HOA TÍM

Bằng lăng héo lá trước hè nhà
Tím ấy theo cùng suốt tuổi hoa
Bão trót khùng điên lay bật rễ
Người còn xao nhãng chẳng nhìn qua
Mình em ứa lệ nhìn cây chết
Lũ bạn cười trêu mải thét la
Cúi lượm thơ ngây mang sắc tím
Ép cùng nỗi nhớ tháng năm xa...

NC

Hay bài sau:

BỮA CƠM NHÀ EM
Cún trắng tranh ăn bị hóc xương
Mèo đen khoái chí tót lên giường
Miu phì, chó oẳng va chân ghế
Bố cáu, mẹ cười, tóe bát tương
Chị lấy phất trần xua xuống bếp
Em cầm vòng cổ xích vô tường
Ngày nào bữa tối đều vui thế
Nên vẽ tranh, khoe bạn ở trường...




Chỉ cần nêu một số ví dụ trên đã có thể chứng minh rằng Đường thi sẽ sống động và có đủ sức mạnh để đi vào lòng người khi không quá gò bó vào từng câu chữ. Nói vậy nhưng cả người khắt khe nhất cũng không thể bắt lỗi về niêm luật của những bài Đường thi nói trên, ngoại trừ các tác giả đã dùng một qui định để du di nhưng đã được các bậc Nho gia tiền bối áp dụng từ vài thế kỉ trước đây, đó là nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh, có nghĩa là những từ thứ nhất, thứ ba và thứ năm trong một câu thơ bẩy chữ có thể tùy ý dùng thanh bằng hay thanh trắc. Còn những từ thứ hai, thứ bốn và thứ sáu hoàn toàn phải theo đúng qui định về luật bằng trắc của Đường thi.
Người mới học làm thơ luật Đường thường chỉ biết là phải chọn từ để đối (càng chan chát càng tốt) cho các cặp câu 3&4 và 5&6, cố gắng sao cho danh từ đối bằng danh từ, động hoặc tính từ thì phải đối bằng động hoặc tính từ. Đây là một việc khó nên người làm thơ còn chưa cao tay thường rơi vào trường hợp khi đặt được những câu như vậy, bài thơ sẽ trở nên khô như ngói vừa ra lò, hoặc chẳng còn giữ được ý hay tứ gì đặc biệt. Thực ra còn khá nhiều kiểu đối như phép đối Lưu thủy, Khoan đối, Chỉnh đối, Tá tự đối, Cú trung đối... mới nghe tưởng là khó nhưng với người yêu thơ thực sự lại trở thành tên lửa tầm xa hoặc vũ khí laze, chỉ khẽ bấm nút là Nàng Thơ phải thả hồn vào bài thơ của mình ngay.
Quay lại hai câu:
Tiên nương say ngủ nào đâu biết
Bồng đảo mơ màng vẫn lộ thiên (bài GHEN)

Hoặc hai câu 3&4 của bài LỐI CŨ dưới đây:

Lối cũ ngày xưa mình díu dan
Giờ đây cỏ lạ mọc xen đan
Còn không giữa cát cây đàn ấy
Hay nát vùi trong bụi gió ngàn
Tim vỡ, cầm bung theo nhát đập
Lòng sầu, hóa thạch với thời gian
Nàng còn nhớ tới ta không nhỉ
Vết vẫn còn ghi dấu nát tan.

Dễ dàng nhận ra là tác giả đã dùng phép Lưu thủy đối nên chẳng phải quan tâm gì đến chuyện danh từ đối danh từ, động từ đối động từ mà vẫn giữ được ý thơ và độ mềm mại cho câu thơ.
Tuy nhiên giá như yêu cầu về đối này thoáng hơn một tí (có nghĩa là được phép lấn rào một chút) thì nhiều bài thơ sẽ hay hơn.

Ví dụ hai câu 5&6 trong bài Hạ Long mà được chấp nhận để giữ theo nguyên tác ban đầu là
Cát ước vào tim trai hóa ngọc
Ta mơ hòa gió động mi bay
Thì ý thơ trọn vẹn và hình ảnh cũng hay hơn, ý nghĩa hơn.
Viết đến đây đã dài nên không dám làm mệt đầu người có lòng ghé mắt đọc bài này hơn nữa. Chỉ muốn bày tỏ rằng nên chăng chúng ta đừng đem các thứ niêm-luật-bệnh- lỗi của Thơ luật Đường ra phê phán nhau một cách khắt khe khiến cho đa số tác giả (chỉ là người thích TLĐ, không phải là người làm thơ mang tính chuyên nghiệp) chỉ có thể tạo ra hàng loạt các sản phẩm giống nhau như bát, đĩa, cốc chén … ở cùng một xưởng, loại hình này chỉ có thể dùng trong việc chúc thọ, mừng nhà mới, vịnh nọ kia… mà thôi.
Để có được những bài TLĐ thật hay, có thể đời sau còn nhớ tới thì phải chọn ý, tứ thật độc đáo, thật sáng tạo trong việc áp dụng các qui định đối ngẫu. Trong trường hợp đó đừng nên vì tác giả cố giữ một tứ hay mà phạm lỗi trong một từ hoặc nửa câu để sổ toẹt hoặc om xòm phê phán nọ kia. Nên chăng cứ để cho "nhóm" hoặc "trường phái" đó sáng tác theo phong cách của họ, biết đâu mai hậu sẽ có thêm những bài thơ đáng được lưu giữ do phong cách sáng tác đó tạo ra.
Viết đã dài nên NC xin dừng ở đây. Hết sức cám ơn bạn bè đã bỏ thời gian đọc bài này.
(sưu tầm) tác gỉa Ngọc Châu


Ghi chú:
- Bản tham luận này NC viết năm 2008 (hay 2009 gì đó) đăng lần đầu ở Vanvn.net (Hội Nhà văn VN), sau đó được nhiều Website văn chương và blog đăng lại. Lần đănG này NC có sửa đi một chút cho thích hợp với tình hình thực tại hơn
- Do không có nhiều thời gian để tìm và lựa chọn nên những bài Đường thi sử dụng trên đều dùng bài của tác giả viết ra, ngoại trừ ba bài của bạn bè, có ghi rõ tên tác giả ở dưới mỗi bài.

Gửi bàigửi bởi Võ Nhân Sơn » 03 Tháng 8 2013, 13:19

Cung Kiếm xin nhường trang tuấn kiệt
Cầm Thư góp nợ trả cho đời


Quay về Thơ Đường Luật - Thành Viên

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Bing [Bot]4 khách